NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI XỬ LÝ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN

Bệnh viện là một trong những nơi tạo ra một lượng nước thải lớn. Nước thải từ các bệnh viện có chứa chất gây ô nhiễm và độc hại phải được xử lý trước khi thải vào nguồn tiếp nhận.

VÌ SAO PHẢI XỬ LÝ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN?

Nước thải bệnh viện là một nước thải được tạo ra tương đối với số lượng lớn từ tất cả các đơn vị thuộc các bệnh viện như trường hợp khẩn cấp và sơ cấp cứu, phòng mổ, điều trị bằng thuốc, ICU, hóa chất và các phòng thí nghiệm sinh học, X quang, căng tin,các hoạt động giặt....
Xử lý nước thải khách sạn bằng công nghệ mới
Nước thải bệnh viện bao gồm các thành phần nguy hiểm, nếu không được xử lý đúng quy trình hoặc không xử lý sẽ gây ô nhiễm nước mặt và nước ngầm, tạo nhiều rủi ro cho con người và môi trường do. Do đó, việc xử lý nước thải bệnh viện là rất cần thiết.

Đặc điểm nước thải bệnh viện:

1
Các mầm bệnh vi khuẩn và vi khuẩn có hại và vi rút
2
Dược phẩm và các chất chuyển hóa của nó
3
Đồng vị phóng xạ
4
Hóa chất độc hại, kim loại nặng
5
Dư lượng thuốc
6
Các chất hoạt động bề mặt, hóa chất khử trùng

XỬ LÝ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN NHƯ THẾ NÀO ĐẠT QUY CHUẨN?

Nhà máy xử lý nước thải cho bệnh viện được vận hành gồm một loạt các bước. Quy trình xử lý nước thải bệnh viện như hình dưới đây.

Giai đoạn xử lý sơ bộ hoặc tiền xử lý

Là giai đoạn đầu tiên, quy trình xử lý sơ bộ là rất cần thiết trong việc xử lý nước thải. Giai đoạn này loại bỏ các vật phẩm như gậy, vải vụn và các mảnh vụn lớn khác và chất rắn vô cơ nặng có trong dòng nước thải thông qua song chắn rác. Loại bỏ các vật liệu này bảo vệ các thiết bị, đường ống của nhà máy khỏi bị hư hại.
Nước thải sau song chắn rác được bơm về bể điều hòa để điều hòa lưu lượng cũng như thành phần của nước thải. Quá trình sục khí để điều hòa nước thải cũng như oxy hóa một phần các chất hữu cơ trong nước thải.

Giai đoạn xử lý thứ cấp

Đây là bước thứ hai trong hệ thống xử lý nước thải. Gồm có 3 quá trình xử lý như sau:
Quá trình hóa lý kết hợp với keo tụ tạo bông:
Quá trình lắng chỉ có thể tách được các hạt rắn huyền phù nhưng không thể tách được các chất gây ô nhiễm bẩn ở dạng keo và hòa tan vì chúng là những hạt rắn có kích thước quá nhỏ.
Để tách được các hạt rắn đó bằng phương pháp lắng thì cần tăng kích thước của chúng nhờ sự tác động tương hỗ giữa các hạt phân tán liên kết thành tập hợp các hạt, nhằm làm tăng vận tốc lắng của chúng. Quá trình tạo thành các bông lớn từ các hạt nhỏ được gọi là quá trình keo tụ (flocculation). Kết thúc quá trình, bùn được đưa về khu vực bể chứa bùn. Nước thải đi tiếp xử lý sinh học với công nghệ AAO.
Bể AAO
Công nghệ AAO là viết tắt từ cụm từ anaerobic- anoxic - aeronbic (AAO). Bản chất của quá trình này là sử dụng hệ vi sinh vật hiếu khí, thiếu khí và kỵ khí để xử lý chất ô nhiễm có trong nước thải.
Nước thải được xử lý triệt để quá hoạt động của vi sinh vật qua 3 giai đoạn như sau:

Xử lý hiếu khí

Nguyên lý chung: Là phương pháp sử dụng các nhóm vi sinh vật hiếu khí. Để đảm bảo hoạt động sống của chúng cần cung cấp oxy liên tục cho chúng và duy trì ở 20- 40 độ C. Khi nước thải tiếp xúc với bùn hoạt tính, các chất thải có trong môi trường như các chất hữu cơ hòa tan, các chất keo và phân tử nhỏ sẽ được chuyển hóa bằng cách hấp phụ và keo tụ sinh học trên bề mặt các tế bào vi sinh vật.

Xử lý yếm khí

Là phương pháp sử dụng các vi sinh vật yếm khí trong quá trình phân giải các chất hữu cơ và vô cơ trong môi trường không có oxy. Những bã hữu cơ phức tạp bao gồm protit, lipit, xenluloza, pectin và các gluxit khác trong quá trình lên men sẽ phân hủy thành hỗn hợp khí gồm metan (65 - 70%), H2, N2, CO2, ...Vì vậy quá trình này được gọi là lên men metan.

Xử lý thiếu khí: là quá trình trung gian của 2 quá trình hiếu khí sang yếm khí.

Đây là một quá trình xử lý sinh học loại bỏ các vật liệu vô cơ hòa tan có ở dạng hòa tan và keo từ nước thải. Ở đây, vi khuẩn được sử dụng chuyển đổi chất hữu cơ keo và hòa tan. Bây giờ nước thải được xử lý một phần từ bể sơ cấp chảy vào bể sục khí và không khí được cung cấp qua máy thổi khí để cung cấp oxy cho vi khuẩn. Khi nước thải chảy vào bể lắng thứ cấp, nơi chất rắn lắng xuống được gọi là bùn thứ cấp và một phần của nó được tái chế cho quá trình bùn hoạt tính và phần còn lại được trộn với bùn chính sẽ được gửi đến bể xử lý bùn và sau đó thải ra. Giai đoạn này loại bỏ khoảng 90% chất rắn vô cơ.
Bình lọc áp lực với công dụng chính là loại bỏ các tạp chất không mong muốn có trong nước. Đối với các hệ lọc sử dụng vật liệu lọc truyền thống sẽ loại bỏ độ đục và cặn lơ lửng, tùy thuộc vào các vật liệu lọc và công nghệ khác nhau (hóa chất  thêm vào) thì sau quá trình lọc có thể loại bỏ clo dư, phenol, mùi và giảm COD/BOD…

Giai đoạn xử lý cấp ba

Đây là giai đoạn cuối cùng trong hầu hết các hệ thống xử lý. Giai đoạn này loại bỏ các vi sinh vật gây bệnh không được loại bỏ trong quá trình xử lý sinh học sẽ bị loại bỏ bởi quá trình gọi là khử trùng. Một số chất khử trùng có thể được sử dụng tùy thuộc vào điều kiện nước thải (pH, độ trong v.v.). Nó đạt được bằng các chất khử trùng vật lý hoặc hóa học như clo, tia UV, ozone, v.v ... Bây giờ, nước thải khử trùng là phù hợp để xử lý hoặc tái sử dụng.
Nước thải sau khi đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế- QCVN 28:2010/BTNMT  thì sẽ được thải ra nguồn tiếp nhận, đảm bảo không gây hại cho nguồn tiếp nhận.
Quý vị muốn liên hệ chúng tôi?
Rất mong nhận được sự quan tâm và hợp tác của quý khách. Kính chúc quý khách hàng sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt. Trân trọng kính chào!

SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY TNHH CÔNG NGHỆ NHIỆT ĐỚI